Tôi không ngừng dan díu với những giọt nước mắt của đời...

Gửi bởi: cobedanau | Lượt xem: 1650

Năm 1958,  Trịnh Công Sơn sáng tác ca khúc Ứớt Mi được Nhà xuất bản An Phú ấn hành tại Sàigòn năm 1959.. Thật ra, theo như lời Sơn kể lại thì trước đó Sơn cũng đã sáng tác một số bài như Sương đêm, Chơi vơi…  “Rất nhiều bài hát đã được viết trước bài”  Ướt mi” nhưng riêng bài Ướt Mi thì tồn tại như một số phận của nó  và của tôi”, do đó có thể  coi Ướt mi là tác phẩm đầu tay của Trịnh Công Sơn  chính thức được công bố.

Trịnh Công Sơn và tác giả Sâm Thương

Trong một tối, Trịnh Công Sơn đã cùng một vài người bạn đến  Mỹ Cảnh, một phòng trà nổi tiếng của Sàigòn thời ấy để uống rượu và nghe nhạc. Tình cờ Sơn được nghe tiếng hát của một  ca sĩ  chỉ mới 15 tuổi, người Huế : Thanh Thúy, người mà Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã dành một chương trong trong tác phẩm Nhận Định IV  mang tên Ao Anh Thanh Thúy  để viết về cô:

“ (…)  Thường một ca sĩ ra hát, bao giờ cũng cố gắng làm sao cho người khác để ý đến mình, không những chỉ bằng sự hiện diện trước mặt họ mà còn bằng những cử động, những cái nhìn, nụ cười chiếu thẳng vào khán giả mong làm hài lòng khán giả như mời gọi, quyến rũ. Đứng trước máy vi âm, ca sĩ chú ý đến khán giả mong làm hài lòng khán giả bằng sự phô trương tất cả con người của mình.

 Trái lại Thanh Thúy ra hát, dĩ nhiên cũng là hát cho khán giả, nhưng làm ra vẻ không chú ý đến khán giả , không tự giới thiệu, đi đến với khán giả bằng cử chỉ nụ cười , cái nhìn Thanh Thúy e lệ, kín đáo, bước ra rụt rè như con cò, tiến đến gần máy vi âm, mà không đưa mắt nhìn vào khán giả. Lúc hát không làm một cử động nào, hai tay luôn luôn nắm lấy cây sắt của máy vi âm, mắt nhìn xuống đất hoặc nhìn ngang, thỉnh thoảng mới nhìn lên lướt qua rất nhanh khán giả mà không cố ý nhìn một ai. Thanh Thúy không nhìn ai, để trở thành vật được nhìn của tất cả. Hình như đôi lúc Thanh Thúy lại nhắm mắt hay chỉ mở lim dim…

Thái độ của Thanh Thúy  là đi tới người khác không phải bằng cách cởi mở, đón tiếp, mời gọi với  những cái nhìn, nụ cười cử chỉ mà bằng cách khép mình lại, thu mình vào bên trong, không xét đến người khác đang nhìn mình. Thỉnh thoảng cô mỉm cười khi lời ý buồn cười, nhưng cũng như cười với mình thôi.

Do đó, ra trình diễn, mà lại như không muốn cho người xem thấy mình vì Thanh thúy che dấu mặt đến quá nửa bằng mái tóc bỏ xõa… Hát xong một khúc,đi vào trong ngay, không đứng lại bên máy, bên dàn nhạc để hát tiếp khúc sau.

(…) Đứng trước Thanh Thúy, nghe Thanh Thúy hát những bài buồn buồn bằng một giọng trầm, với những nét mặt xa vắng, khán giả như thấy bị lôi kéo về một dĩ vãng xa xôi nhưng cũng rất gần gũi quen thuộc, một dĩ vãng dệt một hình ảnh rung động, cảm nghĩ gắn liền với lịch sử đất nước, với thôn quê , đồng ruộng , với sông Hương , núi Ngự, tiêu biểu cho những gì là dân tộc, cá tính địa phương về mặt tiêu cực: một nỗi buồn man mác, cô tịch, trầm lặng, vô định…Thanh Thúy là hiện thân của nỗi buồn đó. Cho nên khi hát , hình như Thanh Thúy không chú ý phát âm rõ, và người nghe hình như cũng không đòi hỏi hiểu được  lời ca vì cái cốt yếu là truyền cảm được nỗi buồn, bằng một giọng buồn và thông cảm được điệu buồn, nỗi buồn không nội dung rõ rệt. Có lẽ những khán giả thích Thanh Thúy là thích vì vậy, không phải giải thích như một thân xác, nhưng như một người đàn bà , một thiếu nữ Việt, một cô gái Huế qua những cái rất “đàn bà”, ”rất Việt Nam” và rất “Huế” của Thanh Thúy.

Giọng ca trầm buồn và phong cách trình diễn  của Thanh Thúy đã gây cho Sơn một ấn tượng đặc biệt. Ngay trong đêm nhạc đó,  Sơn đã viết một mảnh giấy nhỏ đề nghị Thanh Thúy hát bài Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong. Thanh Thúy nhỏ nhẹ cám ơn, rồi cất tiếng hát. Khi hát do có tâm sự riêng, nghe đâu cha cô vừa mất  trước đó vài tháng và mẹ cô bị lao phổi đang trong trong tình trạng trầm trọng. Cô đã không kiềm chế được cảm xúc, cứ để cho tình cảm tràn đầy,  cô vừa hát vừa khóc.

Sau khi  quay về Huế, có lẽ vào một đêm mưa, cơn mưa  của Huế , Sơn đã nhớ lại những giòng nước mắt lăn dài trên má của cô ca sĩ trẻ với số phận bất hạnh, “ những giọt nước mắt ấy như một cơn mưa nhỏ trên tâm hồn mỏng manh của tôi  đã khiến tôi phải lùi xa hơn nữa về một cõi đời nào còn xa xôi hơn đã từng làm tôi nhỏ lệ. Phải có một nỗi tuyệt vọng nào đó khởi đầu  để tôi không ngừng dan díu  với những giọt nước mắt của đời làm của cải riêng tư. Eva ăn trái cấm và sự sống thành hình. Tôi e cũng đã từng nuốt những giọt nước mắt để biết tận tình nói về những giọt nước mắt kia . 

Những giọt nước mắt đó đã trờ thành một ám ảnh, một thôi thúc  làm bùng lên ngọn lửa sáng tạo đang âm ĩ  cháy  trong Sơn. Và Sơn đã viết ra như không kiềm giữ được:

Buồn ơi trong đêm thâu 

Ôm ấp giùm ta nhé

Người em thương mưa ngâu

Hay khóc sầu nhân thế

Tình ta đêm về có ấm

từng cơn mưa em chưa (…)

                          Ướt Mi

Bài hát Ướt Mi ra đời trong một hoàn cảnh như thế, và nó đã được đón nhận nồng nhiệt của giới trẻ miền Nam vào những năm 1959-1960, đặc biệt khán giả Nhật Bản  cũng rất thích bản nhạc nầy, một phần do dàn nhạc giao hưởng của Nhật đã thu và trình diễn bài nhạc này. Với âm điệu đó, ngôn từ đó hình như anh đã nói thay họ những gì trong cái góc riêng tư , sâu kín nhất nhưng lại như có vẻ  giản dị, dễ cảm thông  mà họ không thể nói được.

Tiền bản quyền của ca khúc Ướt Mi mà Nhà xuất bản An Phú đã trả cho Sơn là 5.000 đồng (5) , một số tiền quá lớn. Chính  Sôn đã bất ngờ với số tiền mà mình nhận được.

“Dạo ấy, trong đầu hoàn toàn chưa có một khái niệm nào về tiền tác quyền. Ở tuổi hai mươi, trong tâm trí đang còn phơi phới những ý đồ hiệp sĩ. Số tiền năm ngàn hồi ấy quá lớn đã được dùng một phần tặng người ca sĩ và phần còn lại chia đều cho các bạn cùng ở trọ. Mỗi tháng tiền ăn ở cho một học sinh, sinh viên chỉ có năm sáu trăm đồng.”

Nguồn cảm hứng đầu tiên ấy đã làm cơ sở cho một loạt những cảm xúc khác  thành hình. Như một khu rừng mùa thu yên tĩnh được một cơn gió thổi bùng lên đánh thức lớp lá vàng dậy, tâm hồn tôi đã bắt đầu biết xôn xao  theo những tín hiệu, dù nhỏ nhất của cuộc sống. Tôi không còn nhìn ngắm cuộc sống một cách lơ đãng như trước nữa mà càng lúc càng thấy mình bị cuốn  về phía những tình cảm phức tạp của con người. Những trái cây đầu mùa ấy còn vụng về, chưa có vóc dáng riêng, nhưng nó mang đến niềm thích thú để từ đó sẳn lòng làm một cuộc hành trình dài lâu đi vào cái bề sâu của âm thanh và ngôn ngữ.”

Một năm sau, năm 1959 , một lần nữa, Sơn viết một bài khác , cũng để tặng người đã hát bài hát đầu tiên của mình. Bóng dáng  người nữ ca sĩ  nhỏ nhắn  đêm  đêm sau  xuất hát  hấp tấp bước vào  ngõ tối trên đường Cao Thắng trở về nhà với mẹ. Đó là ca khúc Thương Một Người  như để chia sẻ trên đôi vai cô ca  sĩ  trẻ sớm  gánh chịu nỗi nhọc nhằn.

 Thương ai về ngõ tối 

  Sương rơi ướt đôi môi

Thương ai buồn kiếp đời

lạnh lùng ánh sao rơi.

(..) 

Thương ai về xóm vắng 

Đêm nay thiếu ánh trăng

Đôi vai gầy ướt mềm 

người lạnh lắm hay không.

    Thương một người

 

Với Thanh Thúy, tình cảm mà Trịnh Công Sơn đã dành cho cô  không biết có phải là tình yêu hay nỗi niềm cảm thông trước số phận nghiệt ngã của người đồng điệu?  Hình như chính Sơn cũng không phân định được.

Theo thanhthuy.me

 

Các bài viết khác:
Người du ca chính hiệu
Người du ca chính hiệu

Trịnh Công Sơn là một người du ca. Thế nào là người du ca?

Bản tình ca không biên giới...
Bản tình ca không biên giới...

Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Trong sự nghiệp âm nhạc, ông đã sáng tác trên 600 ca khúc, trong đó phần lớn là tình ca. Như nhạc sĩ Thanh…

Tình yêu có lý lẽ riêng...
Tình yêu có lý lẽ riêng...

 Ít ai biết rằng, “Đâu phải bởi mùa thu” – một trong những ca khúc về mùa thu hay nhất của nhạc sĩ Phú Quang từng bị “tuýt còi” 10 năm trời trước khi được chính thức đưa ra biểu…

Nghe bài hát

Quang Dũng Am

Ngọc Lan F#m

Ngọc Anh F#m

Khánh Ly Dm

Ánh Tuyết Em

Thanh Thúy (trước 75) Dm

Kiều Nga Em

Hợp âm ca khúc
Ướt mi

1. Ngoài [Am] hiên mưa rơi rơi, lòng [F] ai như chơi vơi Người [Dm] ơi nước [Am] mắt hoen mi [E] rồi Đừng khóc trong đêm [E7] mưa, đừng [Am] than trong câu [F] ca. [Am] Buồn ơi trong…